Hồi quang phản chiếu là gì?

Hồi quang phản chiếu là một thuật ngữ Phật giáo Hán Việt (tiếng Trung: 迴光返照/ Huíguāngfǎnzhào), sự minh mẫn cuối (terminal lucidity), lời tạm biệt cuối (one last goodbye), chỉ hiện tượng hồi phục trở lại mạnh mẽ đột ngột xảy ra đối với con người lẫn sự vật trước khi kết thúc hoạt động trao đổi chất để tồn tại.

Từ nguyên học

Cụm từ này bắt nguồn từ kinh Phật, chữ "hồi" là quay lại, "quang" là ánh sáng, "phản" là trở lại, "chiếu" là soi sáng. Như vậy, "Hồi quang phản chiếu" là quay ánh sáng trở lại, soi rọi chính mình. Như các bạn ở Việt Nam thường hay biết về hiện tượng người già trước khi chết thường minh mẫn lạ thường hỏi hôm nay là ngày bao nhiêu tháng nào năm nào thực chất lúc ấy họ đã cảm nhận được cái chết

Hiện tượng

Con người

Hồi quang phản chiếu được biết đến như hiện tượng người ốm nặng đột ngột hồi tỉnh, khỏe lại trước khi qua đời.

Sự vật

Ngọn nến bỗng dưng cháy sáng rực rỡ nhất khi chỉ còn một cục sáp nhỏ vô định hình. Nó bốc cháy mãnh liệt bằng toàn bộ phần thân sáp còn sót lại tạo thành một ngọn lửa vút cao và có độ nóng khủng khiếp trước khi tắt phụt và hoàn toàn chìm vào bóng đêm tĩch mịch.

Phật giáo

Giải nghĩa

Theo lý giải của thập nhị xứ (Ayatana) hiện tượng, vật thể xung quanh luôn biến đổi không ngừng cũng như chi phối từ tư tưởng đến hành động của con người từng giây từng phút và được gọi là "trần". Như thế, trần có nghĩa là bụi, mà đã là bụi thì dơ bẩn và luôn luôn đổi dời. Có 6 trần nên gọi là lục trần (six sense objects):

  • Sắc: là màu sắc, hình dáng.
  • Thanh: là âm thanh phát ra.
  • Hương: là mùi vị.
  • Vị: là chất vị do lưỡi nếm được.
  • Xúc: là cảm giác như cứng, mềm, nóng, lạnh.
  • Pháp: là những hình ảnh, màu sắc, hương vị được lưu lại từ 5 trần ở trên.

Còn "căn" là chỗ nương tựa, làm gốc cho những cái khác nảy nở, tạo thành. Ở đây chỉ sáu giác quan (six sense organs):

  • Nhãn là mắt, dùng để nhìn.
  • Nhĩ là tai, dùng để nghe.
  • Tỷ là mũi, dùng để ngửi.
  • Thiệt là lưỡi, dùng để nếm.
  • Thân là da bọc thân người, dùng để nhận biết những cảm giác như nóng, lạnh..
  • Ý là tư tưởng, dùng để phân biệt.

Nguồn gốc

Trong Lăng-nghiêm kinh (Śūraṅgama Sūtra), khi đức Phật đưa tay lên hỏi ngài A nan thấy không, ngài A nan trả lời thấy. Rồi Phật để tay xuống hỏi ngài A nan thấy không, ngài A nan trả lời không thấy. Ngay đó Phật liền quở là quên mình theo vật.

Tiếng dùng trong Thiền lâm (tiếng Trung禪林/ Chánlín) nghĩa là tự chiếu soi lại tâm tính. Tiếng Anh bao gồm:

  • Self examination
  • Turn the light inwards on oneself
  • Turning the light around and shining back. Turn your own light inward upon yourselves. Turn around the light to shine within (ekō henshō), then just return.[6]

Lâm Tế Lục (tiếng Trung臨濟錄/ Lín jì lù) (Đại 47, 502 thượng), ghi: Ngay nơi lời nói, ông tự hồi quang phản chiếu, không tìm cầu gì khác, thì biết được thân tâm mình không khác gì với Phật tổ.

Thạch đầu thảo am ca trong Cảnh đức truyền đăng lục (tiếng Trung景德傳燈錄/ Jǐng dé chuándēng lù) quyển 30 (Đại 51, 461 hạ), nói Ở am này, thôi giảng giải. Ai khoe hàng quán mua người vẽ? Hồi quang phản chiếu liền biết đường về. Rỗng suốt tính linh chẳng hướng ngoại.

Bài học

Con người từ người trí thức cho tới kẻ bình dân luôn dùng tất cả sáu giác quan (lục căn) gồm nhãn (mắt), nhĩ (tai), tỷ (mũi), thiệt (lưỡi), xúc giác (thân), ý (tư tưởng) để bám đuổi theo lục trần (sáu trần) bên ngoài, luôn luôn phân tích tìm hiểu. Cứ thấy hình sắc thì phân tích đẹp – xấu, nghe âm thanh cũng phân tích tiếng hay – dở v.v… Đối diện với tất cả sự vật hiện tượng (cảnh giới) bên ngoài, đều đem hết khả năng soi sáng của mình phân tích ý nghĩa sự vật. Càng phân tích nhiều chừng nào thì càng quên mình nhiều chừng ấy.

Do đó mắt vừa thấy hình ảnh thì nói thấy, khi hình ảnh mất đi thì nói không thấy. Đó là khi phóng ánh nhìn của mắt đuổi theo vật nghĩa là "Phóng quang chiếu ngoại", đem cái tri giác hiểu biết của mình phóng ra ngoài để phân tích sự vật. Vì vậy khi có sự vật thì tưởng như có mình, khi mất sự vật tưởng như mất mình. Đó là một ảo tưởng u mê sai lầm.

Vì vậy, thay vì trước kia con người phóng ánh sáng ấy theo lục trần, bây giờ dừng lại, nhớ sáu ánh sáng đó hiện hữu nơi sáu căn của mình, không theo sáu trần nữa, đó là hồi quang. Hồi quang tức là nhớ lại mình chớ không có gì lạ. Các thiền sư luôn nhắc chúng ta phải “Hồi quang phản chiếu”, quay lại mình nhớ mình, chớ đừng nhớ cảnh.

Y học

Thuật ngữ đề cập đến một sự trở lại bất ngờ, phục hồi rõ rệt của sự minh mẫn (lucidity) và trí nhớ sáng suốt, lấy lại tinh thần (rally) xảy ra trong thời gian ngắn, giai đoạn cuối (terminal) trước khi chết ở những bệnh nhân bị bệnh tâm thần hoặc rối loạn thần kinh nghiêm trọng. Hiện tượng này đã được ghi nhận ở những bệnh nhân bị tâm thần phân liệt, khối u, đột quỵ, viêm màng não, bệnh Parkinson và bệnh Alzheimer.

Nó có thể có mặt ngay cả trong trường hợp bệnh nhân bị khuyết tật tâm thần trước đó. Có hai loại phụ: một loại xuất hiện dần dần (một tuần trước khi chết) xảy ra trong phần lớn các trường hợp và một loại khác đến nhanh chóng (vài giờ trước khi chết). Có thể có rất nhiều trường hợp được báo cáo trong tài liệu, mặc dù thuật ngữ đã được đặt ra vào năm 2009.

Các giả thiết về hồi quang phản chiếu

Để giải thích cho hiện tượng kỳ lạ này, có giả thiết cho rằng khi một người chuẩn bị qua đời là bước sang thế giới khác, linh hồn của người đó sẽ rút dần khỏi thể xác, từ chân, bụng, tay, cuối cùng là trái tim và trí não. Khi trí não nhẹ nhàng, an yên, không còn bị ảnh hưởng của vật chất, người đó có thể trở nên tỉnh táo và mạnh mẽ đặc biệt.

Có giả thiết lại giải thích về mặt tình cảm, nói rằng thời điểm cận kề cái chết là lúc con người ta khao khát sự sống nhất và muốn tạo những kỷ niệm vui vẻ cuối cùng với người thân vì vậy đã xảy ra “hồi quang phản chiếu”.

Hồi quang phản chiếu có thật hay không?

Khoa học cũng ghi nhận hiện tượng “hồi quang phản chiếu”, dù thật sự vẫn còn rất mơ hồ - về cả cơ sở lẫn khả năng chứng minh, lý giải. Kết quả nghiên cứu của một nhóm khoa học cho thấy trong số 227 bệnh nhân sa sút trí tuệ được theo dõi, khoảng 10% cho thấy có sự sáng suốt hơn hẳn ở giai đoạn cuối đời.

Từ việc đánh giá tài liệu của mình, nhà nghiên cứu đã báo cáo rằng khoảng 84% những người trải nghiệm sự sáng suốt ở giai đoạn cuối sẽ đi đến cái chết nhanh hơn trong vòng một tuần, và 42% số người còn lại qua đời vào chính ngày xảy ra hiện tượng. Vậy làm thế nào một bộ não bị phá hủy bởi bệnh tật trong nhiều năm lại trở nên sáng suốt lúc cận kề cái chết?

Nhà nghiên cứu đưa ra ví dụ về một phụ nữ 91 tuổi bị bệnh Alzheimer. Trong suốt 15 năm, người phụ nữ này đã rơi vào tình trạng vô thức và không nhận ra con gái hay bất cứ ai. Vào một buổi tối, bà bắt đầu trò chuyện rất thân tình với con gái. Bà nói về nỗi sợ chết, những khó khăn mà bà đã trải qua với gia đình. Và vài giờ sau đó, bà đã qua đời.  
 

Từ trường hợp trên, đã xuất hiện nhiều giả thiết về cả mặt tâm linh và khoa học xoay quanh hiện tượng “hồi quang phản chiếu”, nhưng vẫn không đủ thông tin để xác định một cơ chế dứt khoát.

Đến nay, câu trả lời cho hiện tượng “hồi quang phản chiếu” vẫn còn bỏ ngỏ. Một số triết gia và nhà thần học đã đưa ra giả thuyết rằng ý thức của con người nằm ngoài phạm vi hoạt động của bộ não. Ý tưởng này đã được đề xuất như một lời giải thích cho những trải nghiệm cận tử.

Các nhà khoa học tuy phản đối giả thuyết trên nhưng cho đến nay vẫn chưa thật sự giải mã được bí ẩn của những hiện tượng bất thường này.

Ý thức tồn tại độc lập với đại não

Hiện tượng “hồi quang phản chiếu” chứng thực ‘ý thức tồn tại độc lập với đại não’

Một số chuyên gia cũng chỉ ra: “Đối với một số bệnh nhân không thể duy trì sự sống, huyết áp sẽ về 0 trước khi chết và hoạt động sóng não tức thời của họ có thể hoạt động mà không thể giải thích được. 

Mặc dù không có bằng chứng lâm sàng nào cho thấy những bệnh nhân này là có nhận thức trước khi chết, nhưng kết quả cho thấy, các dây thần kinh trong trạng thái nguy cấp có thể phức tạp hơn so với nhận thức truyền thống”. 

Ngay cả khi một số vùng não nhất định được kích hoạt lại do giải phóng áp lực hoặc điện năng, khó có thể tưởng tượng rằng một đại não bị tổn thương nghiêm trọng (hoặc gần như không tồn tại) lại có thể khiến con người nhớ lại và giao tiếp liên tục. 

Trong một số trường hợp, toàn bộ ý thức dường như đã hồi phục. Trong các trường hợp “hồi quang phản chiếu”, làm thế nào một đại não bị hư hỏng lại có thể truyền tải được ý thức hoàn chỉnh như vậy?

Các nhà nghiên cứu còn cho biết, hiểu được “hồi quang phản chiếu” sẽ hữu ích cho việc hỗ trợ điều trị lâm sàng. Ví dụ, bác sĩ người Áo Julius Wagner-Jauregg (1857 – 1940) chỉ ra rằng các triệu chứng rối loạn tâm thần đôi khi được giảm bớt do sốt cao. Sau đó, ông đã sử dụng liệu pháp sốt để điều trị chứng mất trí nhớ tê liệt (còn được gọi là viêm màng não giang mai, một chứng rối loạn tâm thần ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng não) và giành giải thưởng Nobel về Y học.

Alexander Batthyany, giáo sư khoa học tại Đại học Vienna, vẫn luôn theo đuổi nghiên cứu về “hồi quang phản chiếu”. Ông đã gửi một bảng câu hỏi cho 800 nhân viên điều dưỡng, và chỉ có 32 người trong số họ trả lời ông. 32 người này tổng cộng đã chăm sóc 227 bệnh nhân cao tuổi mắc chứng mất trí nhớ (bệnh Alzheimer) và khoảng 10% trong số họ đã hồi phục ngắn trước khi chết. 

Tuy nhiên, Batthyany cũng nhấn mạnh rằng, những nhân viên điều dưỡng này đều chủ động phản hồi, về cơ bản họ đã chứng kiến ​​hiện tượng “hồi quang phản chiếu” của bệnh nhân. Còn tỷ lệ phản hồi thấp của những người được điều tra, có thể đồng nghĩa rằng hiện tượng này là hiếm gặp. Tuy nhiên, đối với một số nhân viên điều dưỡng mà nói, những trải nghiệm như vậy đã có tác động rất lớn đối với họ.

Người đăng: thún
Time: 2021-01-19 03:50:57